GIẢI ĐÁP KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC TRONG CÔNG TÁC KIỂM SÁT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
(VKSND TỈNH KHÁNH HÒA TẬP HUẤN NGÀY 12/7/2016)

1/ Câu hỏi: Theo Điều 28 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 và Khoản 2 Điều 12 Luật Thi hành án dân sự năm 2014 quy định, Viện kiểm sát thực hiện quyền kiến nghị đối Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan. Tuy nhiên, hiện nay, Luật Thi hành án dân sự cũng như các văn bản có liên quan không quy định về thời hạn trả lời kiến nghị cho Viện kiểm sát. Do đó, dẫn đến tình trạng việc trả lời kiến nghị chậm, ảnh hưởng không nhỏ trong công tác kiểm sát.

Giải đáp:

 Hiện nay pháp luật chưa quy định thời hạn trả lời Kiến nghị, Tuy nhiên, để khắc phục việc này, Viện kiểm sát tỉnh và Cục thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa đã ký kết quy chế phối hợp số 1624 ngày 12/11/2015, quy định về thời hạn trả lời kiến nghị tại Điều 11: “Việc giải quyết Kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh và Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện được thực hiện tương tự theo trình tự, thủ tục và thời hạn quy định tại Điều 161 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014”. Trên cơ sở đó,  các Viện kiểm sát cấp huyện vận dụng thực hiện.

2/ Câu hỏi: Quy định về thời hạn Tòa án chuyển giao bản án, quyết định sơ thẩm được thi hành ngay, mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị (trừ quyết định  áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời) cho Chi cục thi hành án dân sự trong  hệ thống pháp luật không thống nhất, gây khó khăn cho công tác kiểm sát thi hành án dân sự. Cụ thể: Điều 381 Bộ luật tố tụng dân sự 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011, quy định thời hạn chuyển giao là 10 ngày, kể từ ngày ban hành bản án, quyết định. Tuy nhiên, Điều 28 Luật Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định thời hạn chuyển giao là 15 ngày, kể từ ngày ban hành bản án, quyết định.

Giải đáp:

 Để khắc phục sự việc trên BLTTDS năm 2015 đã điều chỉnh thống nhất thời hạn Tòa án chuyển giao bản án, quyết định sơ thẩm được          thi hành ngay là 15 ngày, đươc quy định tại khoản 2 Điều 485:Tòa án đã ra bản án, quyết định quy định tại điểm a khoản 2 Điều 482 của Bộ luật này phải chuyển giao bản án, quyết định đó cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra bản án, quyết định.

3/ Câu hỏi: Về kiểm sát về thời hạn Tòa án chuyển giao bản án, quyết định của cho Chi cục THADS

Khoản 1, khoản 2 Điều 28 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) quy định:

“1. Tòa án đã ra bản án, quyết định quy định tại các điểm a, b, c, d và g khoản 1 Điều 2 của Luật này phải chuyển giao bản án, quyết định đó cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.

2. Tòa án đã ra bản án, quyết định quy định tại điểm a khoản 2 Điều 2 của Luật này phải chuyển giao bản án, quyết định đó cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra bản án,quyết định.”

Căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án cấp huyện (cùng cấp) có  hiệu lực pháp luật, Tòa án thực hiện việc chuyển giao theo quy định cho Chi cục THADS để ra quyết định thi hành án, nếu có vi phạm Viện kiểm sát sẽ tích lũy và ban hành kiến nghị chung yêu cầu khắc phục vi phạm.

Qua kiểm sát nhận thấy, đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp trên và bản án, quyết định cấp phúc thẩm, Luật Thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi bổ sung 2014) không có quy định Tòa án cấp trên (cấp phúc thẩm) phải trực tiếp chuyển giao cho Chi cục THADS những bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, do đó Tòa án cấp trên đã chuyển giao bản án, quyết định nói trên cho Tòa án cấp huyện để Tòa án chuyển giao lại cho Chi cục THADS, từ đó dẫn đến những bản án, quyết định này hầu hết đều vi phạm về thời hạn chuyển giao cho Chi cục THADS và Viện kiểm sát cấp huyện thực hiện chức năng kiểm sát các quyết định thi hành án lại không thể thực hiện việc kiến nghị theo thẩm quyền đối với những bản án, quyết định chậm chuyển giao này của Tòa án cấp huyện.

Giải đáp:

Theo quy định tại Điều 28 Luật thi hành án dân sự, thì trách nhiệm chuyển giao và thời hạn chuyển giao bản án, Quyết định thuộc trách nhiệm của Tòa án đã ra bản án, Quyết định. Thực tế các bản án, Quyết định phúc thẩm không chuyển trực tiếp, mà gián tiếp qua Tòa án sơ thẩm. Tuy nhiên, thời điểm cơ quan thi hành án nhận bản án, Quyết định của Tòa án phúc thẩm phải đảm bảo thời hạn luật định. Nếu quá hạn, thì tổng hợp các  bản án, Quyết định cơ quan thi hành án dân sự nhận quá hạn báo cáo Viện kiểm sát cấp trên, để có Kiến nghị đến Tòa án phúc thẩm.

4/ Câu hỏi: Khó khăn trong việc cung cấp thông tin về tài sản và xác minh điều kiện thi hành án:

Tại điểm đ khoản 2 Điều 31 Luật thi hành án dân sự năm được sửa đổi, bổ sung năm 2014, quy định:“Thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, nếu có”

Theo quy định này, người có đơn yêu cầu thi hành án phải đảm bảo các nội dung trong đó có thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án. Trên thực tế người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nhưng việc xác định người phải thi hành án có tài sản để thi hành án hay không là rất khó khăn vì phần lớn đương sự khó có thể tự xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, nên họ thường yêu cầu Chấp hành viên xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án hoặc nếu có xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì kết quả  xác minh đó chưa đảm bảo tính chính xác, khách quan. Vì vậy Điều luật đưa ra nội dung này mang tính hình thức, khó thực hiện trên thực tế. 

Giải đáp:

Thông tin về tài sản theo quy định tại điều luật này là không nhất thiết người được thi hành án phải cung cấp mới được thụ lý đơn thi hành án như quy định của Luật thi hành án dân sự chưa sửa đổi. Điều luật này chỉ quy định nếu người được thi hành án nếu có thông tin về tài sản của người phải  thi hành án, thì nêu trong đơn, trên cơ sở đó Chấp hành viên sẽ tiến hành xác minh theo quy định. Nếu chưa có thông tin về tài sản của người phải thi hành án, thì trách nhiệm xác minh thuộc về chấp hành viên (Khoản 1 Điều 44 Luật THADS được sửa đổi bổ sung năm 2014), phải thực hiện trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện của người phải thi hành án.

5/ Câu hỏi: Trường hợp hiện nay, Cơ quan THADS tiến hành xác minh điều kiện thi hành án, nhưng chưa xác định được địa chỉ của người phải  thi hành án thì áp dụng Điều 44a hay Điều 48 Luật THADS để ra quyết định xử lý.

Giải đáp:

Trường hợp này được quy định định tại khoản 3 Điều 9 Nghị định 62/NĐ-CP “Trường hợp chưa xác định được địa chỉ và tài sản của người phải thi hành án hoặc chưa xác định được địa chỉ của người phải thi hành án mà theo bản án, quyết định họ phải tự mình thực hiện nghĩa vụ thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án. Quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án phải ghi rõ việc thi hành án bị hoãn theo Điểm b Khoản 1 Điều 48 Luật Thi hành án  dân sự”. Tuy nhiên, cần lưu ý là chưa xác định được địa chỉ của người phải thi hành án, nhưng nếu có tài sản vẫn phải cưỡng chế để đảm bảo thi hành án.

6/ Câu hỏi: Tại điểm b Khoản 1 Điều 48 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014, quy định về điều kiện hoãn thi hành án:

“…hoặc vì lý do chính đáng khác mà người phải thi hành án không thể tự mình thực hiện được nghĩa vụ theo bản án, quyết định”

Đây là trường hợp người phải thi hành án phải tự mình thực hiện nghĩa vụ theo quyết định thi hành án mà không một cá nhân, tổ chức nào có thể thực hiện thay nghĩa vụ này được. Do đó, khi người phải thi hành án có lý do chính đáng (ví dụ: Đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn…), thì  cơ quan thi hành án ra quyết định hoãn thi hành án.

Tuy nhiên, hiện nay các văn bản hướng dẫn thi hành Luật thi hành án chưa có hướng dẫn thế nào là “lý do chính đáng khác” dẫn đến trên thực tế việc áp dụng hoãn thi hành án còn tùy tiện, không thống nhất.

Giải đáp:

Cần nêu rõ cơ quan thi hành án đã dùng lý do như thế nào, mới xác định là tùy tiện, không thống nhất. Nếu cơ quan thi hành án căn cứ  lý do nào đó, mà dẫn đến người phải thi hành án không thể tự mình thực hiện được nghĩa vụ theo bản án, quyết định là phù hợp quy định. Ngược lại, nếu cơ quan thi hành án dân sự áp dụng lý do mà xác định người phải thi hành án vẫn thi hành được nghĩa vụ thi hành án, thì Kiến nghị yêu cầu thu hồi Quyết định hoãn thi hành án vi phạm pháp luật.

7/ Câu hỏi : Theo điểm c khoản 1 Điều 48 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014, quy định trường hợp đương sự đồng ý hoãn thi hành án thì phải lập thành văn bản có chữ ký của các đương sự. Tuy nhiên thực tế việc lập thành văn bản chỉ có chữ ký của người được thi hành án, không có chữ ký của người phải thi hành án.

Giải đáp:

Theo khoản 1 Điều 3 Luật thi hành án dân sự, quy định: “Đương sự bao gồm người được thi hành án, người phải thi hành án”. Do đó, khi phát hiện việc hoãn thi hành án theo điểm c khoản 1 Điều 48   Luật thi hành án dân sự, không có chữ ký đầy đủ của người phải thi hành án và người được thi hành án trong việc thống nhất đề nghị hoãn thi hành án, thì Viện kiểm sát Kiến nghị yêu cầu thu hồi Quyết định hoãn thi hành án, vì cơ quan THADS áp dụng không đúng quy định pháp luật nêu trên.

8/ Câu hỏi : Về ủy thác thi hành án dân sự. Theo khoản 1, khoản 3 Điều 55 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định, thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ủy thác thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án có tài sản, làm việc, cư trú hoặc có trụ sở. Và việc ủy thác phải thực hiện trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày xác định có căn cứ ủy thác. Tuy nhiên trong thực tế, khi phát hiện có căn cứ để ủy thác Cơ quan thi hành án dân sự không ban hành quyết định ủy thác thi hành án, mà lại ban hành quyết định thi hành án, sau đó ban hành quyết định thu hồi quyết định thi hành án và ra quyết định ủy thác thi hành án.

Giải đáp:

 Viện kiểm sát căn cứ quy định trên để Kiến nghị đối với  vi phạm của cơ quan thi hành án dân sự.

9/ Câu hỏi : Về miễn, giảm thi hành án dân sự.

Tại điểm a khoản 3 Điều 61 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, quy định về điều kiện miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước: “Hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, mỗi lần giảm không quá một phần tư số tiền còn lại phải  thi hành án” Như vậy, trong trường hợp đủ về thời hạn nhưng số tiền còn lại trên 5.000.000 đồng và dưới 10.000.000 đồng thì không được điều chỉnh trong điều luật mà phải chờ đến 10 năm sau mới được giảm theo điểm b khoản 2 Điều 61 Luật thi hành án dân sự.

Giải đáp:

Theo điểm b khoản 2 Điều 61 Luật thi hành án dân sự, quy định về việc xét miễn, không phải xét giảm đối với nghĩa vụ nộp NSNN còn lại >= 5.000.000đr đến < 10.000.000đ. Do đó, việc xét giảm khoản thu nộp NSNN theo điểm a khoản 3 Điều 61 đối với số tiền từ 10.000.000đ đến =< 100.000.000đ được tiến hành cho đến khi số tiền nghĩa vụ thi hành án  còn dưới 10.000.000đ và có thời hạn (là hết thời hạn 10 năm, kể từ ngày ra QĐTHA) phù hợp điểm b khoản 2 Điều 61 sẽ được xét miễn khi.

10/ Câu hỏi: Về việc dừng cưỡng chế.Tại khoản 2 Điều 72 Luật thi hành án dân sự quy định về các  nội dung chính của Kế hoạch cưỡng chế thi hành án: “c) Thời gian, địa điểm cưỡng chế;”

Trên thực tế có rất những vụ việc phải hoãn tiến hành cưỡng chế vì nhiều lý do. Tuy nhiên, hiện nay Luật thi hành án dân sự cũng như các văn bản liên quan không quy định thời gian hoãn việc cưỡng chế là bao nhiêu ngày. Vì vậy, dẫn đến việc một số Cơ quan thi hành án đã ban hành Kế hoạch, xác định thời gian cưỡng chế, nhưng sau đó lại hoãn vô thời hạn, điều này gây không ít khó khăn cho công tác kiểm sát thi hành án, đây cũng là cách mà các cơ quan thi hành án thực hiện nhằm kéo dài thời gian thi hành án đối với những vụ việc có tính chất phức tạp.

Do vậy, cần thiết phải có quy định cụ thể về thời gian tiếp tục tiến hành việc cưỡng chế trong trường hợp này.

Giải đáp:

Việc tạm dừng cưỡng chế phải có lý do cụ thể, khi lý do không còn, căn cứ Điều 46 Luật thi hành án dân sự, Viện kiểm sát kịp thời yêu cầu hoặc Kiến nghị cơ quan thi hành án tiếp tục thi hành, tránh việc kéo dài, trì hoán thi hành án.

11/ Câu hỏi: Về quy định về việc xác định, phân chia, xử lý tài sản chung để thi hành án.Theo Điều 74 Luật THADS, trước khi cưỡng chế kê biên đối với tài sản thuộc sở hữu chung của người phải thi hành án với các thành viên hộ gia đình, Chấp hành viên đã thông báo cho người phải thi hành án và các đồng sở hữu chung biết để khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định phân chia phần sở hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung, thì phát sinh các vấn đề sau:

- Người phải thi hành án và các người đồng sở hữu, sử dụng chung không thực hiện việc khởi kiện, vì không muốn tài sản của mình bị xử lý thi hành án. Một số trường hợp không khởi kiện nhưng lại có đơn khiếu nại, yêu cầu không được kê biên vì đó là tài sản chung của gia đình.

- Chấp hành viên tiếp tục giải thích yêu cầu người được thi hành án khởi kiện, đề nghị Tòa án xác định phần sở hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để kê biên, xử lý thi hành án thì Tòa án không thụ lý với lý do: Tài liệu kèm theo đơn chưa có văn bản thỏa thuận của các đồng sở hữu, sử dụng về việc xác định phần tài sản cụ thể của người phải thi hành án trong khối tài sản chung;  đồng thời phần đất thuộc quyền sử dụng chung chưa được đo đạc tách ra thành thửa đất riêng của người phải thi hành án trong khối tài sản chung. Việc yêu cầu này của Tòa án đối với các việc án vướng Điều 74 Luật THADS, Chấp hành viên, người được thi hành án không thể thực hiện được trong thực tế vì các đồng sở hữu, sử dụng không thỏa thuận; việc án chưa kê biên thì không thể có thửa đất được đo đạc, tách thửa theo yêu cầu.

- Chấp hành viên hướng dẫn đương sự khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định phần sở hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để kê biên thi hành án thì không được Tòa án chấp nhận bởi lý do trên; quá bức xúc với vụ việc của mình, người được thi hành án quay lại khiếu nại Chấp hành viên chậm thi hành án.

Theo quy định của Luật THADS thì đương sự và Chấp hành viên đều có quyền yêu cầu nhưng theo BLTTDS thì Yêu cầu xác định phần tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung  việc dân sự, các bên không có tranh chấp mà chỉ có yêu cầu, do vậy Tòa án yêu cầu cung cấp văn bản thỏa thuận về việc xác định (hoặc phân chia) tài sản của các đồng sở hữu thì mới thụ lý là một yêu cầu đúng pháp luật nhưng lại không thực hiện được trên thực tế, vì nếu có văn bản đồng thuận về phân chia tài sản rồi thì đương sự hoặc Chấp hành viên không cần phải yêu cầu Tòa xác định; nhưng nếu BLTTDS quy định Yêu cầu xác định phần tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung  tranh chấp dân sự thì nó liên quan đến việc cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, đây là điều mà người được thi hành án hoặc Chấp hành viên khó thực hiện được.

Giải đáp:

Tại điểm c khoản 2 Điều 24 Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 hướng dẫn về việc kê biên tài sản để thi hành án, quy định:  “Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình thì Chấp hành viên xác định phần sở hữu, sử dụng theo số lượng thành viên của hộ gia đình tại thời điểm xác lập quyền sở hữu tài sản, thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất. Chấp hành viên thông báo kết quả xác định phần sở hữu, sử dụng cho các thành viên trong hộ gia đình biết.

Trường hợp vợ hoặc chồng hoặc các thành viên hộ gia đình không đồng ý với việc xác định của Chấp hành viên thì có quyền yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ. Hết thời hạn này mà không có người khởi kiện thì Chấp hành viên tiến hành kê biên, xử lý tài sản và trả lại cho vợ hoặc chồng hoặc các thành viên hộ gia đình giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của họ”.

Như vậy, sau thời hạn Chấp hành viên đã thông báo hợp lệ cho các  thành viên của hộ gia đình theo quy định, nhưng không có người khởi kiện, thì Chấp hành viên tiến hành kê biên và xử lý nhà đất của hộ gia đình người phải thi hành án theo việc xác định của chấp hành viên.

* Lưu ý: Ngoài các trường hợp được quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 24 Nghị định 62 nêu trên, các trường hợp khác khi chưa xác định được phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung, nếu hết thời hạn được quy định, mà người phải thi hành án và người được thi hành án không yêu cầu, thì Chấp hành viên yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo Khoản 10 Điều 25 BLTTDS năm 2014 (nay là khoản 9 Điều 27 BLTTDS năm 2015). Trường hợp Tòa án không thụ lý, thì Kiến nghị yêu cầu thực hiện theo luật định.

12/ Câu hỏi: Về kê biên nhà của người phải thi hành án.

Về kê biên nhà ở theo khoản 2 Điều 95 Luật thi hành án sửa đổi, thì: “ …Trường hợp nhà ở gắn liền với đất thuộc quyền sử dụng của người khác thì Chấp hành viên chỉ kê biên nhà ở và quyền sử dụng đất để thi hành án nếu người có quyền sử dụng đất đồng ý. Trường hợp người có quyền sử dụng đất không đồng ý thì chỉ kê biên nhà ở của người phải thi hành án, nếu việc tách rời nhà ở và đất ở không làm giảm đáng kể giá trị căn nhà”. Vậy, nếu giảm đáng kể giá trị căn nhà thì có quyền kê biên hay không, nếu không kê biên được và đây là tài sản duy nhất thì có được cho là chưa có điều kiện và như vậy lại không đảm bảo theo điều 44a luật thi hành án.

Giải đáp:

Theo quy định trên “Trường hợp người có quyền sử dụng đất không đồng ý, mà việc tách rời nhà ở và đất ở làm giảm đáng kể giá trị căn nhà”, thì không được kê biên. Do đó, theo điểm a khoản 1 Điều 44a, trường hợp này thuộc diện “tài sản theo quy định pháp luật không được kê biên, xử lý để thi hành án”, nên xác định là việc chưa có điều kiện thi hành.

            13/ Câu hỏi: Về thời hạn thẩm định giá.Tại khoản 2 Điều 98 về định giá tài sản kê biên, quy định 05 ngày làm việc, kể từ ngày kê biên tài sản, Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá trên địa bàn tỉnh. Thực tế, khi kê biên xong phải đo vẽ, đòi hỏi các cơ quan chuyên môn phải có thời gian, do đó quy định 05 ngày làm việc là chưa hợp lý và khó thực thi.

Giải đáp:

Để khắc phục việc này, trước khi kê biên đề nghị Chấp hành viên tổ chức đo vẽ nhà đất cần xử lý, khi tiến hành kê biên Hội đồng chỉ có trách nhiệm kiểm tra, đối chiếu lại bản vẽ. Tuy nhiên, đối với trường hợp người phải thi hành án không hợp tác, thì buộc tiến hành đo vẽ tại hiện trường kê biên, do đó thời gian hoàn thành việc đo vẽ có thể hơn 05 ngày là do thực tế khách quan có thể chấp nhận được, nên đối với vụ việc cụ thể này không cần thiết kiến nghị, yêu cầu.

14/ Câu hỏi: về kê biên quyền sử dụng đất của người phải thi hành án có tài sản của người khác gắn liền với đất.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 111 Luật thi hành án dân sự thì trường hợp đất của người phải thi hành án có tài sản gắn liền với đất mà tài sản đó thuộc quyền sở hữu của người khác thì Chấp hành viên chỉ kê biên quyền sử dụng đất và thông báo cho người có tài sản gắn liền với đất. Đồng thời việc xử lý tài sản đó được quy định theo Điều 113 luật thi hành án dân sự, thực tế để giải quyết vấn đề trên là rất khó khăn. Như trường hợp bà Nguyễn Thị Thanh Hiếu trú tại thị trấn Diên Khánh, huyện Diên Khánh đã thế chấp tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á – Chi nhánh Nha Trang đối với quyền sử dụng đất thửa đất số 152, tờ bản đồ số 31, thị trấn Diên Khánh có diện tích 522,4m2 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 270552 do UBND huyện Diên Khánh cấp ngày 20/5/2010 đứng tên Nguyễn Thị Thanh Hiếu để vay vốn. Tuy nhiên trên đất này lại có tài sản là nhà của ông Nguyễn Đức Thoại, trú tại thị trấn Diên Khánh. Chi cục thi hành án đã tiến hành cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất của bà Hiếu vào tháng 7/2013. Nhưng đến nay vẫn còn khó khăn trong việc giải quyết tài sản là nhà của ông Nguyễn Đức Thoại nằm trên thửa đất nêu trên.

Giải đáp:

Vụ việc này, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã có chỉ đạo giải quyết, khi kê biên lô đất của bà Hiếu để đảm bảo thi hành án, xác định trên đất có tài sản gắn liền của người khác là nhà xây 03 tầng của ông Thoại, thì áp dụng khoản 2 Điều 111 Luật THADS, quy định Trường hợp đất của người phải thi hành án có tài sản gắn liền với đất mà tài sản đó thuộc quyền sở hữu của người khác thì Chấp hành viên chỉ kê biên quyền sử dụng đất và thông báo cho người có tài sản gắn liền với đất”  và điểm a khoản 1 Điều 113 Luật thi hành án dân sự, quy định: “Đối với tài sản có trước khi người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án thì Chấp hành viên yêu cầu người có tài sản tự nguyện di chuyển tài sản để trả quyền sử dụng đất cho người phải thi hành án. Trường hợp người có tài sản không tự nguyện di chuyển tài sản thì Chấp hành viên hướng dẫn cho người có tài sản và người phải thi hành án thoả thuận bằng văn bản về phương thức giải quyết tài sản. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày hướng dẫn mà họ không thoả thuận được thì Chấp hành viên xử lý tài sản đó cùng với quyền sử dụng đất để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người phải thi hành án và người có tài sản gắn liền với đất”.

Do đó, nếu ông Thoại được thông báo, không di dời tài sản hoặc không thỏa thuận được theo quy định trên, thì hết thời hạn quy định nêu trên Chấp hành viên kê biên luôn căn nhà trên đất đã kê biên (căn cứ để kê biên là theo điểm c khoản 2 Điều 113 Luật thi hành án dân sự có quy định “Người có tài sản gắn liền với đất của người phải thi hành án được hoàn trả tiền bán tài sản…nhưng phải chịu các chi phí về kê biên, định giá, bán đấu giá), để  xử lý cùng với quyền sử dụng đất của bà Hiếu để đảm bảo quyền lợi các bên theo quy định.

Việc cơ quan thi hành án kéo dài sự thỏa thuận trong vụ việc trên dẫn đến việc thi hành án trì hoãn đến nay đã trên 03 năm, Viện kiểm sát cần có văn bản Kiến nghị, yêu cầu phù hợp để đảm bảo quyền lợi cho đương sự.

15/ Câu hỏi: Từ điều 176 đến điều 179 Luật THADS quy định  trách nhiệm của Kho bạc nhà nước, Ngân hàng và tổ chức tín dụng; Bảo hiểm xã hội; Cơ quan đăng ký tài sản, đăng ký giao dịch bảo đảm; Cơ quan ra bản án, quyết định. Như vậy, việc không thực hiện hay thực hiện không đúng, không đầy đủ hay không kịp thời của các cơ quan này sẽ xem là hành vi vi phạm hành chính trong thi hành án dân sự theo Điều 162 và bị xử lý vi phạm theo Điều 165 Luật Thi hành án dân sự. Tuy nhiên, trách nhiệm của cơ quan đăng ký tài sản, đăng ký giao dịch bảo đảm theo Điều 178 Luật thi hành án dân sự là tạm dừng hoặc dừng việc thực hiện các yêu cầu liên quan đến các giao dịch đối với  tài sản của người phải thi hành án, hoặc thực hiện việc  đăng ký quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất cho người mua được tài sản, người được thi hành án nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án hoặc thu hồi, sửa đổi, hủy các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đất, giấy tờ đăng ký giao dịch bảo đảm đã cấp cho người phải thi hành án; thực hiện việc cấp mới các giấy tờ theo quy định của pháp luật, nếu việc không thực hiện hay thực hiện không đúng, không đầy đủ hay không kịp thời của cơ quan này thì lại không được xem là hành vi vi phạm hành chính trong thi hành án dân sự, mà đã không được xem là vi phạm hành chính thì không thể xử lý vi phạm theo Điều 165 Luật thi hành án dân sự. Như vậy hành vi của các cơ quan này có phải không được quy định tại Điều 162 Luật THADS hay không?

Giải đáp:

Theo khoản 8 Điều 162 Luật thi hành án dân sự, quy định về hành vi vi phạm hành chính trong thi hành án dân sự: “…hoặc có hành vi vi phạm khác gây trở ngại cho hoạt động thi hành án dân sự nhưng chưa tới mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự”. Do đó, những hành vi trên của cơ quan đăng ký tài sản, đăng ký giao dịch bảo đảm trong thi hành án dân sự, được xem là những vi phạm hành chính trong thi hành án dân sự.

16/ Câu hỏi: Về ủy quyền trong thi hành án dân sự.Trường hợp người được thi hành án ủy quyền cho người phải thi hành án thực hiện quyền và nghĩa vụ của người được thi hành án, có phù hợp  quy định không.

Giải đáp:

Trên thực tế, để giải quyết mâu thuẩn vụ việc, thì các bên đương sự tranh chấp ở Tòa án, kết quả tranh chấp được giải quyết rõ ràng theo quy định pháp luật. Nhưng sau đó người phải thi hành án đã thống nhất quan điểm với người được thi hành án (“làm lành với nhau”), nên dẫn đến có trường hợp người nhận ủy thác của người được thi hành án là người phải  thi hành án.

17/ Câu hỏi: Tài sản phải giao theo bản án được thế chấp trước khi án có hiệu lực.Trường hợp trước khi có bản án, quyết định của Tòa án tuyên giao trả quyền sử dụng đất, tuy nhiên người phải thi hành án đã thế chấp QSDĐ cho ngân hàng trước khi có bán án, Quyết định của Tòa án. Trong trường hợp này phải xử lý như thế nào đề đảm bảo quyền lợi của ngân hàng.

Giải đáp:

Việc thế chấp ngân hàng đối với quyền sử dụng lô đất được giao trả theo bản án, Quyết định, có trước bản án, Quyết định của Tòa án. Việc này được phát hiện sau khi xét xử, là tình tiết mới, nên giải quyết theo thủ tục Tái thẩm để đảm bảo quyền lợi cho các bên đương sự.

18/ Câu hỏi: Việc đảm bảo quyền lợi cho người phải thi hành án  đối với án chủ động.Trường hợp bản án hình sự, Tòa án không gửi cho cơ quan THADS để ra quyết định thi hành án chủ động, khi thời hiệu thi hành bản án hình sự đã hết mà họ lại phạm tội mới, CQĐT xác minh việc thi hành án phần dân sự chưa được thực hiện do lỗi của cơ quan tiến hành tố tụng, thì xử lý như thế nào khi Luật thi hành án dân sự không quy định thời hiệu ra quyết định thi hành án chủ động.

Giải đáp:

Việc này có phần trách nhiệm của Tòa án và Viện kiểm sát trong việc chuyển giao bản án, Quyết định của Tòa án. Tuy nhiên, trách nhiệm thi hành án phần dân sự trong bản án, Quyết định thuộc về người phải thi hành án được biết sau khi được xét xử, họ có thể nộp số tiền, tài sản phải thi hành cho cơ quan thi hành án để thu giữ đảm bảo thi hành án, thời điểm này có thể được xem xét là họ đã thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án, để đảm bảo quyền lợi của mình.

19/ Câu hỏi: Về kiểm sát việc bán đấu giá tài sản thi hành án.

Khi kiểm sát việc bán đấu giá tài sản thi hành án, thông qua hồ sơ việc thi hành án của Cơ quan thi hành án dân sự,  phát hiện một số vi phạm trong hoạt động tổ chức bán đấu giá tài sản. Trong khi đó chưa có một hành lang pháp lý cho việc kiểm sát việc bán đấu giá tài sản để thi hành án. Vậy, Viện kiểm sát có quyền hạn gì để kiếm sát việc bán đấu giá tài sản thi hành án.

Giải đáp:

Theo khoản 2, khoản 5 và khoản 6 Điều 28 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân; điểm b và điểm c khoản 2 Điều 12 Luật thi hành án dân sự. Viện kiểm sát có quyền kiểm sát trực tiếp, yêu cầu cung cấp hồ sơ đối với cơ quan, tổ chức có liên quan đến việc thi hành án. Tuy nhiên, hiện nay Viện kiểm sát nhân dân Tối cao chưa cho phép Viện kiểm sát địa phương quyền trực tiếp kiểm sát, do đó các Viện kiểm sát khi phát hiện vi phạm của tổ chức bán đấu giá, thì thực hiện các quyền yêu cầu cung cấp hồ sơ để kiểm sát, nếu phát hiện vi phạm thì kiến hoặc Kháng nghị theo quy định pháp luật.

            20/ Câu hỏi: kiểm sát đối với Giám thị trại giam, thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện.

Trường hợp người phải thi hành là phạm nhân, nhưng Giám thị trại giam, thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi phạm nhân đang chấp hành án không thông báo cho Chi cục thi hành án dân sự hoặc cho rằng không biết bị án đang chấp hành hình phạt tù ở đâu. Vậy khi kiểm sát phát hiện những vi phạm thế này thì xử lý thế nào.

Giải đáp:

Căn cứ Điều 28 Luật Tổ chức VKSND và khoản 1 Điều 3 Thông tư 07/2013/TTLT/BTP-BCA-BTC ngày 06/02/2013, quy định về trách nhiệm của Giám thị trại giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện: Thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự nơi Tòa án đã xét xử sơ thẩm họ, tên, địa chỉ của phạm nhân là người phải thi hành án dân sự hoặc phạm nhân là người được thi hành án dân sự theo bản án hình sự, trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tiếp nhận phạm nhân vào trại giam”, để yêu cầu hoặc Kiến nghị về vi phạm được phát hiện.          

21/ Câu hỏi: Về thi hành Quyết định Giám đốc thẩm.

Đối với phần bản án, quyết định của Tòa án hủy, sửa bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới mà đã thi hành được một phần hoặc đã thi hành xong, mà thỏa thuận với nhau về việc bồi thường thiệt hại, thì giải quyết như thế nào.

Giải đáp:

Theo khoản 3 Điều 135 Luật thi hành án dân sự, quy định “Trường hợp có yêu cầu về bồi thường thiệt hại thì cơ quan ra bản án,  quyết định bị huỷ, sửa giải quyết theo quy định của pháp luật. Do đó, căn cứ bản án, Quyết định có hiệu lực pháp luật sau thủ tục Giám đốc thẩm, cơ quan thi hành án dân sự sẽ thi hành về việc bồi thường theo nội dung được xét xử.

22/ Câu hỏi: Về ưu tiên thanh toán tiền thi hành án.

Theo khoản 3 Điều 47 Luật thi hành án dân sự, quy định:“Trường hợp xử lý tài sản cầm cố, thế chấp mà bên nhận cầm cố, thế chấp là bên được thi hành án hoặc trường hợp bán tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành một nghĩa vụ cụ thể thì số tiền thu được từ việc bán tài sản cầm cố, thế chấp, bị kê biên được ưu tiên thanh toán cho bên nhận cầm cố, thế chấp hoặc bên có nghĩa vụ được bảo đảm sau khi trừ án phí của bản án, quyết định đó, chi phí cưỡng chế và khoản tiền quy định tại khoản 5 Điều 115 của Luật này.

Việc xử lý tài sản của người phải thi hành án được thế chấp sau khi  bản án có hiệu lực, có được ưu tiên cho bên thế chấp không.

Giải đáp:

Theo khoản 1 Điều 24 Nghị Định 62/2015/NĐ-CP, quy định: “Kể từ thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, nếu người phải thi hành án …thế chấp, cầm cố tài sản cho người khác mà không sử dụng khoản tiền thu được để thi hành án và không còn tài sản khác hoặc tài sản khác không đủ để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án thì tài sản đó vẫn bị kê biên, xử lý để thi hành án, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Khi kê biên tài sản, nếu có người khác tranh chấp thì Chấp hành viên thông báo cho đương sự, người có tranh chấp thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự.

Do đó, nếu người được thế chấp tranh chấp, xử lý tài sản sau khi có kết quả giải quyết tranh chấp của Tòa án.Nếu hết thời hạn được Chấp hành viên thông báo, người nhận thế chấp không tranh chấp, thì họ không được ưu tiên giải quyết như khoản 3 Điều 47 Luật thi hành án dân sự.
Phòng 11